|
Dự án tín dụng Việt Bỉ
Tài chính vi mô
Mô hình tài chính vi mô nhằm vào phụ nữ nghèo
có thu nhập thấp thông qua cho vay không thế chấp
bằng các thủ tục thuận tiện và đơn
giản.
Nhóm Tiết kiệm và Tín dụng
Mô hình tín dụng dựa trên mô hình Grameen là một
mô hình sử dụng phương pháp trách nhiệm
liên đới nhóm. Mỗi nhóm gồm có 10 người
có cùng hoàn cảnh kinh tế xã hội, quen biết
nhau, sẵn sàng cho nhau vay vốn và giúp đỡ
nhau thực hiện các quy định của dự
án đề ra. Mỗi nhóm chọn ra một trưởng
nhóm được đào tạo để lãnh
đạo nhóm. Các thành viên trong nhóm hằng năm
sẽ lần lượt thay nhau giữ chức
trưởng nhóm.
Các cụm
Một
cụm gồm có 3 nhóm, mỗi nhóm gồm có 10 thành
viên. Mỗi tháng có một cuộc họp cụm
do cụm trưởng chủ trì.Các cuộc họp
cụm hằng tháng giữ một vai trò quyết
định đối với sự tiến bộ
và phát triển của cụm và tuyên truyền cho
các thành viên về các nguyên tắc tín dụng.
Ngày họp được định sẵn, trong
cuộc họp sẽ tiến hành cho vay, thu tiền
hoàn trả vốn vay, lãi và tiết kiệm. Trong
các cuộc họp này, các thành viên có cơ hội
thảo luận về các hoạt động, tao
ra các mối quan hệ xã hội gần gũi,
bàn luận về nhu cầu, và có thể trao đổi
những vấn đề này với các cán bộ
của Dự án Tín dụng Việt Bỉ và cùng
nhau chia xẻ thông tin cả trong những vấn
đề không liên quan đến tài chính vi mô (như
sức khỏe, giải phóng phụ nữ, kế
hoạch hóa gia đình...)
Các sản phẩm tài chính vi mô
Vốn cho vay được kết hợp với
huy động tiết kiệm. Quỹ hỗ trợ
thành viên cũng được thành lập giúp người
vay hỗ trợ lẫn nhau.
- Tín dụng vi mô
- Các sản phẩm tiết kiệm:
- Tiết kiệm bắt buộc: 5 000 đồng
Việt Nam/ người/ tháng
-
Tiết kiệm tự nguyện
- Quỹ hỗ trợ thành viên:
- Quỹ Thiên tai: mỗi thành viên mỗi
tháng nộp phí 300 đồng Việt Nam để
hỗ trợ thành viên của dự án trong
trường hợp có thiên tai. Quỹ này do
Ban Quản Lý (BQL) dự án cấp tỉnh quản
lý. Trong năm 1999 và 2000, một loạt các
trận bão lụt đã phá hủy nhà cửa,
đường xá, mùa màng và các công trình
cơ sở hạ tầng khác ở hai tỉnh
của dự án. Quỹ này được
huy động để hỗ trợ các thành
viên với tổng số tiền là 1,3 triệu
đồng Việt Nam. Vào tháng 3 năm 2001,
quỹ này lên tới 54,9 triệu đồng
Việt Nam.
- Quỹ xã hội: mỗi người đóng
200 đồng Việt Nam một tháng để
giúp đỡ các thành viên khi ốm nặng,
tai nạn hay người thân qua đời.
Đặc điểm và nguyên tắc của mô
hình tài chính vi mô Dự án Tín dụng Việt Bỉ:
-
nhằm vào phụ nữ nghèo có thu nhập thấp,
những người thiếu vốn nhưng
có khả nảng phát triển kinh doanh sản
xuất để cải thiện đời
sống của bản thân và gia đình họ.
-
cung cấp vốn vay không thế chấp cho
phụ nữ nghèo. Yêu cầu duy nhất của
dự án là có sự đảm bảo của
nhóm và người muốn tham gia sẵn sàng
tuân theo các quy định của dự án và quy
định về trách nhiệm thành viên.
-
thủ tục áp dụng đơn giản
(chỉ cần một đơn xin vay nợ
in sẵn), thủ tục giải quyết nhanh
(chỉ trong vòng một tuần) và thuận tiện
(xin vay nợ và các hoạt động vay nợ/
tiết kiệm được giải quyết
trong các cuộc họp cụm hằng tháng được
tổ chức tại xã).
-
cung cấp các khoản vay vừa và nhỏ
với các điều khoản vay phù hợp
với khả năng sử dụng vốn
và thanh toán. Người vay có thể vay vốn
đối với vốn vay một năm (có
thể gia hạn) và vốn vay bổ sung để
mở rộng các hoạt động sản
xuất của mình.
-
Áp dụng hệ thống quỹ quay vòng tín
dụng. Thanh toán nợ hằng tháng giúp cho người
vay thanh toán đúng hạn và khuyến khích họ
tìm đến nhiều hoạt động tạo
thu nhập hơn. Đồng thời khi các
quỹ quay vòng tín dụng này đi vào hoạt
động thì bản thân nó sẽ tự tạo
ra thu nhập và phục vụ nhiều người
nghèo hơn.
-
Cho vay vốn cùng với huy động tiết
kiệm nhằm tạo ra thói quen tiết
kiệm cho người vay để dự phòng
những khoản rủi ro trong tương lai
và đồng thời giúp cho sự phát triển
và bền vững của dự án tài chính vi mô.
-
cho vay vốn thông qua các nhóm phụ nữ giúp
thúc đẩy sự hỗ trợ lẫn nhau
giữa những người vay. Với cách
tiếp cận này, quỹ của dự án sẽ
được bảo tồn.
-
Áp dụng tỷ lệ lãi suất tương
đương lãi suất của các ngân hàng
thương mại cho khu vực nông thôn vay.
Cách làm này nhằm mục đích trang trải
những chi tiêu cần thiết của dự
án.
-
Chuyển giao công tác cho vay và quản lý vốn
vay cho các cán bộ ở địa phương,
những người đã được huấn
luyện, hướng dẫn và hỗ trợ
bởi Ban Quản Lý dự án ở địa
phương và một hệ thống báo cáo đều
đặn. Các cán bộ của dự án tín dụng
Việt Bỉ đều là những phụ
nữ ở địa phương có uy tín trong
cộng đồng. Họ có mối quan hệ
tốt, hiểu được nhu cầu và
khả năng của phụ nữ nghèo. Vì thế,
họ rất thành công trong cung cấp các dịch
vụ tài chính vi mô cho người nghèo.
Vi tính hóa hệ thống quản lý
Quản lý tài chính được vi tính hóa nhờ
phần mềm ngân hàng vi mô (Micro banker), đó
là phần mềm ngân hàng do Tổ chức Lương
thực và Thực phẩm (FAO) lập. Hệ thống
phần mềm này đã được dự án
dịch toàn bộ sang tiếng Việt và thích ứng
với mô hình tín dụng đã lựa chọn. Máy
tính được lắp đặt ở các văn
phòng cấp tỉnh của Hội Liên hiệp phụ
nữ Việt Nam và được kết nối
với máy của văn phòng trung ương của
dự án. Tại văn phòng trung ương các số
liệu ở 7 tỉnh sẽ được xử
lý chung. Chương trình phần mềm Crystal
cho Hệ thống thông tin quản lý (Management
Information System) được cài đặt,
sử dụng các số liệu của Hệ thống
phần mềm Micro Banker và cho phép hình thành
các báo cáo tài chính đầy đủ hằng tháng
bao gồm các chỉ số để có thể
thực hiện được ngay những biện
pháp thích hợp.
Vốn tín dụng quay vòng
Phía Bỉ cấp vốn ban đầu là 397 000
Euro năm 1999 và 1 500 000 Euro vào cuối năm 2001.
Vốn trung bình cấp cho mỗi xã là 105 triệu
đồng Việt nam trong giai đoạn I và cố
định ở mức 130 triệu đồng
trong giai đoạn II.
Các kết quả
|
Tổng số vốn đã cho vay:
|
2,6 triệu đô la Mỹ
|
|
Tổng số người vay cho đến
nay:
|
39 500
|
|
Người vay hiện tại:
|
11 921
|
|
Tỷ lệ hoàn vốn:
|
99,7%
|
Vốn vay chưa trả (Outstanding loans)
/ Tiết kiệm (Savings balance)

last updated:
20/09/02
|
|